title

Kết quả đạt được sau 40 năm sáp nhập thành phố (thực trạng huyện Duyên Hải (Cần Giờ) hiện nay - Giai đoạn 2016 đến nay)
Chủ nhật, 30/12/2018, 10:01 SA
Cỡ chữ Màu chữ image

Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Cần Giờ tiếp tục phát huy truyền thống Anh hùng cách mạng, năng động sáng tạo trong từng bước đi, từng giai đoạn cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn để trưởng thành. Những thành quả hôm nay đã khẳng định sự nỗ lực vươn lên, tính chủ động, tích cực trong việc triển khai và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương và Thành phố.

1. Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; du lịch có bước khởi sắc rõ rệt.

Tăng trưởng tổng giá trị sản xuất bình quân đạt 10%/năm. Trong đó, ngành nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 0,5%/năm, ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 17%/năm và ngành dịch vụ tăng bình quân 18%/năm. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, cụ thể: so với năm 2015, tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng từ 32,6% lên 40%, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 56,2% xuống còn 47% và ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 11,3% lên 13%.

- Về thủy sản: Ngành thủy sản tiếp tục được xác định là ngành kinh tế chủ lực. Bên cạnh các mô hình, đối tượng nuôi trước đây như nuôi nghêu, tôm và hàu, huyện đã phát triển thêm một số đối tượng nuôi mới, có ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất; riêng hoạt động đánh bắt thủy sản ngày càng khó khăn (giảm bình quân 2,2%/năm) do nguồn lợi thủy sản ngày càng giảm, các phương tiện đánh bắt phần lớn hoạt động với công suất nhỏ, ngư trường khai thác chủ yếu ở vùng gần bờ và thường xuyên chịu ảnh hưởng của những đợt thời tiết xấu, một số phương tiện đánh bắt xa bờ chuyển nhượng…

- Về nông nghiệp: Giá trị sản xuất tăng bình quân 0,5%/năm, chủ yếu là trồng cây ăn trái và chăn nuôi gia súc; định hướng sẽ chuyển đổi toàn bộ diện tích đất trồng lúa sang các mô hình khác (nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp kết hợp du lịch sinh thái) nhưng tiến độ thực hiện còn chậm so với kế hoạch. Diện tích trồng xoài theo tiêu chuẩn Vietgap tuy được mở rộng nhưng quy mô còn nhỏ lẻ, chưa tạo được sự chuyển dịch mạnh mẽ trong nội bộ ngành nông nghiệp.

- Về lâm nghiệp: tổng diện tích rừng và đất rừng hiện nay là 34.672,79 ha, trong đó diện tích có rừng trong quy hoạch là 32.451,02 ha và ngoài quy hoạch là 2.221,77 ha. Về hoạt động sinh trưởng cây rừng, rừng đã được giao khoán bảo vệ cho 12 đơn vị và 145 hộ dân với mức khoán là 1.156.000đ/ha/năm, tạo sự phát triển ổn định của rừng và sự an tâm gắn bó với nghề rừng của người bảo vệ rừng.  

- Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Hiện nay, trên địa bàn huyện có 358 cơ sở, hộ cá thể sản xuất tiểu thủ công nghiệp (tăng 75 cơ sở so với năm 2015) với hoạt động chủ yếu là chế biến thủy sản, gia công hàng may mặc, sản xuất nước đá, nước uống, gia công gỗ…Đa số hoạt động với quy mô nhỏ, sản xuất theo phương thức thủ công, còn khó khăn về thị trường tiêu thụ nên chưa quan tâm đến việc mở rộng quy mô sản xuất, đăng ký nhãn hiệu hàng hóa…, dẫn đến giá trị sản phẩm đạt thấp. Thời gian qua, huyện đã tăng cường phối hợp thực hiện các giải pháp như hỗ trợ máy sấy, xây dựng quy trình, công thức chế biến, đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu đã được chứng nhận…để góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

- Về dịch vụ: Tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình kinh doanh, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Cơ sở vật chất ngành thương mại dịch vụ được đầu tư, mạng lưới bán lẻ tiếp tục phát triển. Công tác rà soát và giới thiệu mặt bằng cho các doanh nghiệp phát triển các điểm bán hàng bình ổn được chú trọng nhưng do địa bàn rộng, điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn nên chưa thu hút doanh nghiệp tham gia. Từ đầu nhiệm kỳ (2015 -2020) đến nay, có 68 doanh nghiệp thành lập mới và vận động 04 hộ kinh doanh cá thể chuyển sang loại hình doanh nghiệp; tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn huyện hiện nay là 254 doanh nghiệp. Hàng năm, việc tổ chức hội nghị tiếp xúc với doanh nghiệp luôn được huyện duy trì nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp tham gia rất ít.

- Du lịch: ngành du lịch của huyện đang trên đà phát triển, thu hút lượng du khách đến huyện ngày càng nhiều, tăng bình quân 54%/năm với doanh thu bình quân đạt 512 tỷ đồng. Huyện đã phối hợp khảo sát tuyến du lịch đường sông; các cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí; các tuyến, điểm du lịch, tham quan, mua sắm, điều tra, thống kê toàn bộ tài nguyên du lịch để đánh giá đúng thực trạng, tiềm năng du lịch của huyện, phục vụ công tác lập quy hoạch phát triển du lịch ở huyện. Xây dựng Đề án phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; đồng thời, triển khai các giải pháp khắc phục những hạn chế trong phát triển ngành du lịch, chấn chỉnh sắp xếp lại trật tự kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện. Tổ chức nhiều hoạt động để quảng bá hình ảnh du lịch và giới thiệu sản phẩm đặc trưng của huyện; tuy nhiên, sản phẩm du lịch ở huyện chưa phong phú, chưa tạo được sự thu hút đối với du khách cũng như chưa phản ánh được nét đặc trưng của địa phương, việc xây dựng nhãn hiệu các sản phẩm đặc trưng như xoài cát, khô cá dứa, yến sào…đã được triển khai nhưng còn chậm, đến nay vẫn chưa có sản phẩm được chứng nhận.

Cơ sở hạ tầng du lịch, hạ tầng giao thông tiếp tục được tập trung đầu tư xây dựng, đặc biệt với việc khánh thành tuyến tàu thủy cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Cần Giờ - Vũng Tàu và bến phà Cần Giờ - Cần Giuộc và một số dự án lớn được Trung ương, thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư (Dự án đầu tư xây dựng cầu Cần Giờ, Khu đô thị du lịch biển Cần Giờ, tuyến phà kết nối Cần Giờ - Vũng Tàu…) là động lực thúc đẩy du lịch của huyện phát triển trong thời gian tới.

- Về ngân sách - tín dụng: Tổng mức thu ngân sách bình quân hàng năm tăng 67%. Tốc độ thu ngân sách Nhà nước tăng khá cao nhưng chưa bền vững, chủ yếu tăng từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất (do thị trường đất đai trên địa bàn huyện biến động ở một số thời điểm). Công tác điều hành ngân sách được thực hiện trên tinh thần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Công tác đầu tư được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và theo tình hình thực tế với tổng mức đầu tư tăng bình quân tăng 2,9% so với giai đoạn 2014-2015. Bên cạnh việc tranh thủ tối đa các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách thành phố, huyện luôn nỗ lực tìm kiếm, huy động nguồn lực tại địa phương để đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các công trình xã hội dân sinh, hạ tầng kinh tế. Việc kêu gọi đầu tư có chuyển biến tích cực, đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài huyện đến nghiên cứu, đặt vấn đề đầu tư, liên doanh liên kết sản xuất trên địa bàn. Hoạt động cho vay của các Chi nhánh Ngân hàng trên địa bàn huyện không ngừng tăng trưởng và hướng vào mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện; vốn cho vay tăng bình quân 4%/năm, trong đó vốn cho vay trung hạn trên 6%/năm.

2. Công tác quản lý đô thị và phát triển nông thôn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái được tăng cường; chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục được tập trung thực hiện theo hướng vừa giữ vững vừa nâng cao chất lượng các tiêu chí đạt được; kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng phát triển

Công tác quản lý quy hoạch được tăng cường, tổ chức công bố, công khai theo quy định các Đồ án quy hoạch trên địa bàn huyện được phê duyệt. Hoàn thành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2016-2020), kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Hiện nay, công tác rà soát, đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch trên địa bàn huyện được Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo tạm ngưng cho đến khi có kết quả thi tuyển ý tưởng quy hoạch chung tỷ lệ 1/5000 huyện Cần Giờ (thành phố đã phê duyệt nhiệm vụ tuyển chọn ý tưởng quy hoạch phát triển huyện).

Hạ tầng và phương tiện giao thông được đầu tư phát triển ngày càng tốt hơn, đã triển khai đầu tư xây dựng hoàn chỉnh 05 bến khách du lịch, bến xe tại thị trấn Cần Thạnh, đưa vào khai thác 02 tuyến vận tải hành khách công cộng và tuyến phà Cần Giờ - Cần Giuộc, phục vụ nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hóa của nhân dân trên địa bàn. So với năm 2015, khối lượng hành khách vận chuyển tăng 1,1 lần và hàng hóa tăng 1,6 lần, tăng trưởng doanh thu bình quân 2 năm (2016-2017) gần 30,7%/năm.

Nhu cầu chỉnh trang nhà ở trong nhân dân tăng cao, từ việc thực hiện các chính sách hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước và chương trình vận động hỗ trợ xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, có 1.725 căn nhà ở được xây dựng mới và sửa chữa, cải tạo, tương ứng với tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 85%, cơ bản không còn nhà tạm bợ. Bên cạnh đó, huyện đang kêu gọi đầu tư chỉnh trang 02 khu dân cư tại thị trấn Cần Thạnh và xã Bình Khánh. Quản lý trật tự xây dựng, đô thị được huyện tập trung thực hiện nhưng chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ, số vụ vi phạm về xây dựng không phép, sai phép tăng 2,06 lần so với năm 2015, trong đó xây dựng không phép tăng 1,98 lần.

Hoàn thành dự án xây dựng mới cáp ngầm vượt sông Lòng Tàu cấp điện cho xã Thạnh An và ấp Thiềng Liềng; cải tạo, nâng cấp hệ thống lưới điện, duy trì tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 100%. Hệ thống nước sạch phục vụ sản xuất, đời sống người dân được huyện tập trung thực hiện; đảm bảo hộ dân được sử dụng nước đầy đủ và được hưởng chính sách giá nước chung của thành phố, duy trì tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch 100%.

Công tác ứng phó biến đổi khí hậu được quan tâm và chỉ đạo thực hiện chặt chẽ thông qua việc theo dõi, nắm bắt và kịp thời thông tin tình hình diễn biến của thời tiết, thường xuyên kiểm tra, vận hành máy móc, bổ sung thiết bị và tổ chức diễn tập phương án phòng thủ dân sự ứng phó bão mạnh, kết hợp triều cường và tìm kiếm cứu nạn, chuẩn bị sẵn sàng theo phương châm “4 tại chỗ”; đã tổ chức di dời 48/68 hộ dân ở khu vực Dần Xây và 18 hộ sống ở khu vực có nguy cơ sạt lở cao; triển khai xây dựng 11 công trình phục vụ công tác phòng chống thiên tai và đang thực hiện 02 Dự án.

Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên rừng ngập mặn; triển khai nhiều chương trình nghiên cứu quan trắc theo dõi diễn biến tài nguyên rừng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hướng đến sự phát triển bền vững, tăng diện tích rừng và đa dạng sinh học; thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo dục, tuyên truyền và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đến tham quan nghiên cứu khoa học để nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các giá trị kinh tế - xã hội, môi trường và tính đa dạng sinh học của Rừng ngập mặn trong đời sống xã hội.

Chương trình xây dựng nông thôn mới  được triển khai sâu rộng và hưởng ứng tích cực của các tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân; ngoài sự nỗ lực, chung sức của cả hệ thống chính trị huyện, còn được sự hỗ trợ của lãnh đạo và các đơn vị Thành phố, đến nay đã đạt kết quả khả quan, hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư từng bước hoàn chỉnh. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, năm 2015 thu nhập bình quân người dân nông thôn đạt 37,475 triệu đồng/người/năm, tăng từ 1,5 – 1,9 lần so với trước khi thực hiện đề án (tương ứng với 15 triệu đồng/người/năm trước khi thực hiện đề án), năm 2017 đạt 43,788 triệu đồng/người/năm, bộ mặt nông thôn có nhiều chuyển biến, cơ sở hạ tầng dần hoàn chỉnh, sản xuất nông nghiệp có bước tiến mới, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Phong trào “Toàn huyện chung sức xây dựng nông thôn mới” tiếp tục được đẩy mạnh gắn với phong trào ”Dân vận khéo” và đã đạt nhiều kết quả tích cực, có 74 mô hình, việc làm thiết thực được đăng ký thực hiện. Bên cạnh đó, huyện cũng nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của các đơn vị ngoài huyện theo chương trình ký kết hỗ trợ, phối hợp “Chung sức xây dựng nông thôn mới” với các nội dung như xây dựng nhà tình thương, trao tặng học bổng, bảo hiểm y tế, các phương tiện sinh kế, hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng các công trình giao thông, khám chữa bệnh... Huyện đã  huy động 7.993 lượt ngày công lao động; 1.300 hộ dân tham gia hiến 281.589m2 đất thực hiện các công trình, tương ứng giá trị gần 60 tỷ đồng; sửa chữa 1.732 căn nhà ở tạm bợ, dột nát (trong đó có 856 căn huy động từ sự hỗ trợ theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy), cùng với các khoản hỗ trợ khác về an sinh xã hội, hỗ trợ cho các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn; tham gia phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất…

Với xuất phát điểm thấp, chỉ đạt 03 - 05 tiêu chí/xã (trước khi xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới), đến tháng 4 năm 2016, toàn huyện có 06/06 xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới (hoàn thành Bộ tiêu chí đặc thù vùng nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2015), được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên, đến cuối năm 2015, thu nhập bình quân người dân nông thôn đạt 38,5 triệu đồng/người/năm, tăng từ 1,5-1,9 lần so với trước khi thực hiện đề án (tương ứng với 15 triệu đồng/người/năm trước khi thực hiện đề án), năm 2017 đạt 45 triệu đồng/người/năm; bộ mặt nông thôn có nhiều chuyển biến, cơ sở hạ tầng dần hoàn chỉnh, sản xuất nông nghiệp có bước tiến mới, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

3. Công tác giảm nghèo bền vững được tập trung thực hiện và có nhiều chuyển biến tích cực; bảo đảm chính sách an sinh xã hội; chất lượng giáo dục - đào tạo tiếp tục được giữ vững; đời sống văn hóa, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.

Giảm nghèo bền vững là một trong 03 chương trình trọng điểm mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XI đề ra, yêu cầu sự tham gia của cả hệ thống chính trị với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về kinh tế và chính sách xã hội. Trong đó, tập trung các giải pháp về tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để hỗ trợ, giúp đỡ người dân làm kinh tế có hiệu quả, tìm kiếm việc làm ổn định, cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo. Qua đó, góp phần kéo giảm 35,57% tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn giảm nghèo bền vững so với năm 2016 và không còn hộ nghèo theo chuẩn 16 triệu đồng/người/năm; thu nhập bình quân hộ nghèo diện chính sách đạt 18,34 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 2,57 lần so với năm 2011. Đến cuối năm 2018, số hộ nghèo trên địa bàn huyện là 1.053/18.248 hộ, chiếm  5,77% trên tổng số hộ dân.

Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm luôn được chú trọng thực hiện bằng nhiều giải pháp, bao gồm cả tuyên truyền, thuyết phục, vận động; có 4.184 lao động được đào tạo nghề trong hơn 02 năm qua, trong đó có 1.600 lao động được đào tạo các ngành nghề sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Hiện nay, tỷ lệ lao động được đào tạo có việc làm đạt 85,18% trên tổng số lao động đang làm việc. Bằng nhiều hình thức và giải pháp phù hợp, huyện giải quyết việc làm cho 34.039 lao động, đạt tỷ lệ 96,23%, trong đó có 3.609 lao động được tạo việc làm tăng thêm. Các chế độ, chính sách an sinh xã hội được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời; ngoài các chế độ, chính sách trợ cấp hàng tháng của Trung ương, thành phố, huyện đã huy động thêm sự đóng góp của tổ chức, cá nhân để chăm lo cho đối tượng chính sách.

- Về phát triển giáo dục - đào tạo: Hiệu quả và chất lượng đào tạo ở các cấp học được nâng lên; tỷ lệ học sinh thi đậu đại học, cao đẳng ngày càng tăng; giữ vững và nâng cao hiệu quả phổ cập giáo dục các cấp. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu; hàng năm được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và lý luận chính trị. Công tác chăm lo cho giáo viên và học sinh có hoàn cảnh khó khăn luôn được huyện quan tâm.

Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học được đầu tư xây dựng, đảm bảo đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 18 dự án xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa, mở rộng trường học; đến nay, toàn huyện có 28/38 trường đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất và 21/38 trường đạt chuẩn quốc gia (tăng 10 trường so với cuối năm 2015). Dự kiến giai đoạn 2020 - 2030, huyện sẽ đề xuất thành phố quy hoạch làng Đại học tại huyện để đáp ứng nhu cầu mở rộng Khu trung tâm đô thị kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của thành phố ra vùng ven nội thành. Các xã, thị trấn đều có Trung tâm học tập cộng đồng, tuy nhiên hoạt động còn hạn chế, chưa thu hút người dân tham gia.

Trung tâm Dạy nghề huyện được xây dựng với tổng mức đầu tư 120 tỷ đồng, quy mô 34.571 m2 trong đó đất xây dựng 10.276 m2 bao gồm: 33 phòng học, 21 phòng thực hành, 47 phòng phục vụ học tập và sinh hoạt. Trung tâm có đủ điều kiện đảm bảo giảng dạy cho 1.200 em học viên đến học tập, Ký túc xá có chổ ở cho khoảng 200 em nếu có nhu cầu ở lại trung tâm. Trung tâm được trang bị thiết bị, dụng cụ, phương tiện đào tạo cho 20 ngành nghề đáp ứng cơ bản nhu cầu dạy nghề tại huyện Cần Giờ. Hoàn thành việc sáp nhập Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Trung tâm Tổng hợp - Hướng nghiệp theo quy định, nâng cao chất lượng tuyển sinh và đào tạo tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên của huyện sau khi sáp nhập; giới thiệu người lao động tham gia đào tạo các ngành nghề thuộc nhóm ngành công nghiệp trọng yếu tại các trường cao đẳng, trung cấp có liên kết với các doanh nghiệp theo mô hình “Đào tạo kép” trên địa bàn thành phố.

- Về phát triển văn hóa - thông tin, thể dục thể thao: Nhiều hoạt động lễ, hội diễn ra hàng năm được đầu tư nâng cấp về hình thức và nội dung, các loại hình văn hóa văn nghệ chuyên nghiệp được tổ chức đến các xã, thị trấn trong các ngày lễ lớn (biểu diễn 40-50 suất/năm); phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng ở cơ sở tiếp tục phát triển, hình thành các Câu lạc bộ, đội nhóm văn nghệ, với nhiều hoạt động sôi nổi. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng đi vào chiều sâu; hiện có 30/33 ấp, khu phố giữ vững danh hiệu văn hóa 3 năm liên tục, 93,6% số hộ gia đình đạt gia đình văn hóa.

Cơ sở vật chất văn hóa, thể thao trên địa bàn huyện được đầu tư đồng bộ, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa và tập luyện thể dục thể thao của nhân dân. Hiện có 33/33 ấp, khu phố có văn phòng kết hợp tụ điểm sinh hoạt văn hóa, 06 Trung tâm văn hóa thể thao đạt chuẩn; tuy nhiên, hoạt động còn hạn chế. Hoạt động thông tin tuyên truyền được chú trọng và thực hiện với nhiều hình thức.

Hoạt động thể dục thể thao tiếp tục phát triển; phong trào thể thao trong quần chúng, trường học được đẩy mạnh, góp phần nâng cao tỷ lệ người dân tham gia tập luyện thể dục thường xuyên; số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao là 4.000 hộ, tăng gần 700 hộ so với năm 2015. Công tác xã hội hóa lĩnh vực thể dục thể thao tiếp tục được phát huy, hiện trên địa bàn huyện có 275 cơ sở thể thao ngoài công lập hoạt động với các hình thức sân bóng, hồ bơi, thu hút ngày càng nhiều đối tượng tham gia tập luyện.

- Về công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân: Phối hợp thực hiện Đề án 1816 về việc luân phiên cán bộ y tế hỗ trợ và chuyển giao kỹ thuật chuyên môn cho bác sỹ bệnh viện huyện để khám và điều trị bệnh cho người dân, chất lượng khám, chữa bệnh từng bước được nâng lên. Đã triển khai xây dựng mới và sửa chữa 05 Trạm Y tế xã, cơ bản hoàn thành việc xây dựng mới Bệnh viện huyện với quy mô 200 giường; đồng thời phối hợp với Sở Y tế chuẩn bị phương án nhân sự và phương án triển khai các phòng khám vệ tinh của Bệnh viện thành phố để hỗ trợ nâng cao năng lực thực hiện công tác khám chữa bệnh của Bệnh viện huyện; dự kiến đến cuối năm 2018, số giường bệnh đạt 37,96 giường/10.000 người. Hiện nay, có 5/7 Trạm y tế thực hiện phòng khám bác sỹ gia đình; 7/7 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Công tác đào tạo chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế luôn được huyện quan tâm và thực hiện với nhiều hình thức.

Thực hiện có hiệu quả chính sách y tế toàn dân, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 91,9%. Chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiêm chủng mở rộng và các chương trình y tế quốc gia được thực hiện và đều đạt kết quả cao; tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng mở rộng hàng năm đạt trên 97%, tỷ lệ trẻ em uống Vitamin A đạt 98%, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 3,6% xuống còn 3,3%. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình được cung cấp đảm bảo an toàn, thực hiện theo chuẩn quốc gia, kéo giảm được tỷ lệ cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên dưới 4,8%; đảm bảo tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm dưới 1% (0,7%). Tình hình dịch bệnh trong thời gian qua tuy gia tăng nhưng ngành y tế đã triển khai các biện pháp ngăn chặn và điều trị kịp thời, không có tử vong. Bên cạnh đó, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được các ngành phối hợp thực hiện tốt.

4. Hệ thống chính trị thường xuyên được củng cố; đội ngũ cán bộ công chức ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

 Đảng bộ huyện có 34 chi, đảng bộ cơ sở, trong đó có 13 đảng bộ (với 140 chi bộ trực thuộc) và 21 chi bộ. Công tác quản lý và kết nạp đảng viên được tập trung thực hiện; từ đầu năm 2016 đến nay đã kết nạp được 283/550 đảng viên, đạt 51,45%, trong đó có 85 đảng viên trong giáo viên, 04 đảng viên trong công nhân, 32 đảng viên ở địa bàn khu dân cư; tính đến nay, tổng số đảng viên của Đảng bộ huyện là 2.380 đảng viên, trong đó dự bị là 153, đảng viên nữ là 926.

Với sự tập trung lãnh đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy, nhìn chung, các chi bộ đã thực hiện tốt việc duy trì nền nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư và Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, nội dung sinh hoạt ngày càng thiết thực gắn với nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tế tại địa phương, cơ quan, đơn vị; tổ chức sinh hoạt ít nhất 4 chuyên đề trong năm; tỷ lệ đảng viên tham dự đạt từ 90% trở lên. Công tác đánh giá, phân loại tổ chức đảng, đảng viên hàng năm được chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả theo hướng thiết thực, phù hợp với đặc điểm từng loại hình tổ chức đảng; qua đánh giá hàng năm, không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém 02 năm liền. Việc tham dự sinh hoạt chi bộ định kỳ của các đồng chí Huyện ủy viên và chuyên viên các Ban Xây dựng Đảng, Ủy ban Kiểm tra, Văn phòng Huyện ủy cũng được theo dõi, đôn đốc, nhắc nhở.

Công tác quy hoạch cán bộ được nghiêm túc triển khai thực hiện theo chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, đảm bảo dân chủ, công khai, đáp ứng các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực công tác và các yêu cầu về số lượng cơ cấu, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Theo đó, huyện đã hoàn thành công tác quy hoạch nguồn nhân sự cấp ủy và cán bộ, lãnh đạo quản lý đến năm 2025 và những năm tiếp theo; đồng thời, xây dựng kế hoạch vận hành sau quy hoạch và tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch hàng năm. Công tác bố trí, luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí cán bộ được tiến hành từng bước chặt chẽ, theo đúng quy trình, phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo theo quy hoạch và tiêu chuẩn của từng chức danh. Quan tâm và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức với các hình thức phù hợp, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác, bản lĩnh chính trị, chất lượng và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tính đến tháng 5 năm 2018, số lượng cán bộ, công chức, viên chức của huyện là 1.924 người, trong đó: cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên là 325 người, cán bộ, công chức cấp xã: 281 người và 1.318 viên chức. Đội ngũ viên chức qua các năm có tăng lên, đặc biệt là khối giáo dục và y tế. Tỷ lệ nữ hiện chiếm trên 56,03% (1.078/1.924); có 0,52% (10/1.924) là người dân tộc thiểu số. Về cơ cấu theo ngạch, chức danh nghề nghiệp: số lượng đang giữ ngạch/chức danh nghề nghiệp tương đương ngạch chuyên viên cao cấp và ngạch chuyên viên chính chỉ đạt 0,42% (08/1.924); ngạch chuyên viên chiếm trên 35,91% (691/1.924); ngạch cán sự và tương đương đạt 24,27% (467/1.924). Độ tuổi 31 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu độ tuổi là 40,8%; từ 41 đến 50 tuổi chiếm 28,69%; trên 50 tuổi chiếm 13,36%, còn lại là đội ngũ trẻ dưới 30 tuổi chiếm 18,19%.

+ Các chức danh lãnh đạo, quản lý: Cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý các cấp cơ bản đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (95,41%); trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên đạt trên 85,77%; đồng thời tỷ lệ trình độ tin học đạt chuẩn (85,08%) và trình độ ngoại ngữ (74,18%). Tuy nhiên, tỷ lệ đạt chuẩn về bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo ngạch công chức/chức danh nghề nghiệp viên chức còn thấp (42,39%).

+ Công chức, viên chức không giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý (từ chuyên viên và tương đương trở lên): Đội ngũ đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu ngạch, chức danh nghề nghiệp đạt tỷ lệ thấp khoảng 97,04%; trình độ ngoại ngữ (52,48%) và tin học (53,54%) về lý luận chính trị (60,29%) theo đúng quy định, trong đó số lượng được bồi dưỡng đạt chuẩn về quản lý nhà nước còn rất thấp. Đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ trẻ, nguồn quy hoạch các chức danh lãnh đạo quản lý các cấp trong bộ máy hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập chưa được quan tâm bồi dưỡng để đạt chuẩn theo chỉ tiêu đề ra.

* Cán bộ, công chức xã, thị trấn:

+ Đối với cán bộ chủ chốt: Tỷ lệ đạt trình độ đại học trở lên về chuyên môn, nghiệp vụ và đạt chuẩn về lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học tương đối cao (92,42%; 83,58%; 78,57% và 80%). Tuy nhiên, để đảm bảo nâng cao chất lượng hoạt động ở cơ sở, đặc biệt là công tác chỉ đạo, quản lý và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và phục vụ nhân dân, nâng cao đạo đức công vụ, cần phải quan tâm đặc biệt đến nâng cao tỷ lệ được bồi dưỡng về kiến thức quản lý nhà nước, hiện chỉ có 45,99% đạt chuẩn.

+ Đối với công chức chuyên môn: Công chức cấp xã đã được quan tâm tuyển dụng đội ngũ trẻ tuổi, được đào tạo đúng chuyên môn, góp phần nâng tỷ lệ đạt chuẩn về trình độ chuyên môn lên 70,31%; tỷ lệ đạt chuẩn về trình độ trung cấp lý luận chính trị đạt 75%; trình độ tin học đạt khá cao (93,75%), trình độ ngoại ngữ đạt 82,81% và tỷ lệ công chức cấp cấp xã có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch công chức đạt 71,88%, qua đó cơ bản đáp ứng yêu cầu của công việc, vị trí việc làm của từng chức danh công chức, từng bước cải thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn huyện.

Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sự thay đổi lớn; đảm bảo về số lượng và tăng về chất lượng. Cơ cấu đội ngũ được trẻ hóa, tỷ lệ có trình độ đại học, sau đại học ngày càng cao. Chất lượng đội ngũ được nâng cao cả trên 02 mặt: bằng cấp, chứng chỉ và kỹ năng công tác, năng lực thực thi nhiệm vụ.

5. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền ngày càng được nâng cao, đảm bảo quyền lợi thiết thực cho nhân dân

Hội đồng nhân dân huyện tuy mới được tái lập nhưng hoạt động sớm đi vào nền nếp và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; xây dựng và triển khai thực hiện Đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, có kế hoạch cụ thể hàng năm. Việc tổ chức các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân được duy trì, đảm bảo đúng quy định, nội dung được chuẩn bị chu đáo, cách thức tổ chức có nhiều đổi mới, linh hoạt. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được tăng cường thông qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân và chương trình giám sát chuyên đề hàng năm, với các nội dung phù hợp tình hình thực tế của huyện, tập trung vào các vấn đề, lĩnh vực cử tri và nhân dân quan tâm. Phối hợp duy trì thực hiện phát thanh chuyên mục “Người đại biểu Hội đồng nhân dân” và “Ý kiến người dân” trên Đài truyền thanh huyện nhằm tuyên truyền về hoạt động của Hội đồng nhân dân và trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân... 

Công tác quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân huyện có nhiều tiến bộ. Hoạt động, hiệu quả của các phòng ban chức năng được tập trung củng cố và nâng cao; quy định trách nhiệm cụ thể, rõ ràng giữa các phòng, ban, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ, công chức được tạo điều kiện để học tập, nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng điều hành, thực hiện công vụ, giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị. Đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, tăng cường dân chủ, đổi mới cơ chế sắp xếp và bổ nhiệm nhân sự theo hướng nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan. Thường xuyên rà soát, củng cố, tổ chức bộ máy các phòng, ban chuyên môn; triển khai xây dựng vị trí việc làm gắn với tinh giản biên chế ở các cơ quan đảm bảo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế.

Cải cách hành chính tiếp tục được triển khai thực hiện và đạt kết quả tích cực, trong đó tập trung thực hiện cải tiến quy trình thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, kinh doanh theo hướng rút ngắn thời gian, đảm bảo chất lượng giải quyết hồ sơ, giảm bớt phiền hà cho dân và thực hiện thư xin lỗi đối với hồ sơ giải quyết trễ hạn. Hoàn thành việc rà soát và công bố bộ thủ tục hành chính dùng chung cho huyện, xã, thị trấn; cơ chế hành chính một cửa, một cửa liên thông tại huyện, xã, thị trấn tiếp tục được củng cố ngày càng hoàn thiện và mang lại hiệu quả thiết thực, thông qua việc ứng dụng hệ thống quản lý trong cung cấp dịch vụ hành chính đã nâng cao chất lượng phục vụ, nâng tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn.

Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được tăng cường và từng bước khắc phục những hạn chế, thiếu sót. Ngoài việc tiếp công dân theo lịch tại đơn vị, định kỳ 6 tháng, Thường trực Huyện ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện tổ chức đối thoại với công dân ở các xã, thị trấn để lắng nghe, ghi nhận, giải thích và chỉ đạo giải quyết các thắc mắc, ý kiến phản ánh, khiếu nại tố cáo của công dân theo yêu cầu, đúng quy định, từng bước tạo được niềm tin trong nhân dân, bình quân hàng năm tổ chức tiếp 769 lượt công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, đạt 93% số đơn thụ lý. Nhiều vụ việc khiếu nại phức tạp được lãnh đạo huyện, xã, thị trấn trực tiếp đối thoại với nhân dân và tập trung giải quyết; tình trạng khiếu nại mang tính chất tập thể, có tính gay gắt hoặc gây mất trật tự xã hội không còn xuất hiện, tình trạng khiếu nại kéo dài cũng giảm. Hoạt động thanh tra thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng việc kiểm tra thực hiện kết luận sau thanh tra, gắn nội dung thanh tra với công tác phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và ngăn chặn, xử lý nhiều sai phạm trên các lĩnh vực.

6. Quốc phòng - an ninh được giữ vững ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Nhiệm vụ quốc phòng và công tác quân sự địa phương luôn được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân trong khu vực phòng thủ huyện vững chắc. Hoàn thành bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo phân cấp; phối hợp làm tốt công tác quy hoạch và xây dựng các công trình phòng thủ đúng theo quy định; hoàn thành tốt công tác tuyển quân, tổ chức huấn luyện dân quân dự bị, thực hiện tốt các đợt diễn tập khu vực phòng thủ, hội thao quốc phòng hàng năm,  huấn luyện nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.

Xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch thực hiện phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng củng cố các tổ, ấp, khu phố vững mạnh, phát huy vai trò của nhân dân, của lực lượng bảo vệ trật tự trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong thời gian qua, quần chúng đã cung cấp 627 nguồn tin có giá trị, giúp lực lượng Công an khám phá 134 vụ, bắt và xử lý 269 đối tượng. Tình hình tội phạm hình sự chưa được kéo giảm, còn tiềm ẩn phức tạp, số vụ trộm cắp tài sản công dân, cố ý gây thương tích gia tăng và chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm, gần đây tội phạm ma túy, tệ nạn đánh bài, đá gà ăn thua bằng tiền qua mạng, đối tượng nghiện ma túy tăng cao, có dấu hiệu cho vay nặng lãi dẫn đến mâu thuẫn đánh người.

Việc kiểm tra, tổ chức duy tu sửa chữa, nâng cấp mặt đường, lắp đặt bổ sung biển báo giao thông... được thực hiện hàng năm. Cùng với việc tăng cường tuyên truyền trên đài truyền thanh, tổ chức hội thi, phát động phong trào thực hiện chủ đề xây dựng nếp sống “văn hóa giao thông” đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông trong nhân dân, kéo giảm tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên trên cả 3 mặt. Tuy nhiên, kết quả lập lại trật tự đô thị chưa được duy trì lâu dài, chưa giải quyết dứt điểm tình trạng buôn bán lấn chiếm vỉa hè, lòng, lề đường tại một số khu vực. Trước tình hình trên, căn cứ đặc điểm tình hình địa phương, huyện đã đề xuất thành phố cho phép sử dụng vỉa hè tại một số khu vực nhất định để phục vụ kinh doanh dịch vụ, buôn bán hàng hóa nhưng đến nay chưa được chấp thuận.

Thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các đơn vị sản xuất kinh doanh, công nhân viên chức lao động trong công tác phòng cháy chữa cháy và xây dựng, củng cố phong trào toàn dân tham gia phòng cháy chữa cháy tại đơn vị. Hàng năm, tổ chức Hội thao, tập huấn nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ; kiểm tra xử lý các vi phạm về phòng cháy chữa cháy tại các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

(Trích Báo cáo Đánh giá thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của huyện duyên hải (cần giờ) 40 năm sáp nhập thành phố hồ chí minh)

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Số lượng lượt xem: 55
Tin mới hơn
Tin đã đưa